Thứ Ba, 16 Tháng 6, 2026 lúc 10:35 · 9 phút đọc
Tại sao học đạo giải thoát lại nguy hiểm?
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi giác ngộ giải thoát xong, Ngài không còn ý định thuyết pháp cứu độ chúng sanh, mặc dù xuất phát điểm Ngài cầu đạo là vì hạnh phúc, tự do cho tất cả.
Bấy giờ, vua trời Phạm Thiên phải thị hiện đảnh lễ xin thỉnh Đức Phật thuyết pháp đến 3 lần thì Đức Phật mới đồng ý.
Vì sao vậy?
Vì Đức Phật thấy pháp giải thoát quá khó đối với chúng sanh. Một lời thuyết vừa là cam lồ mà lại cũng vừa sẵn là thuốc độc.
Bài viết này, Ta chỉ rõ cho các con lý do vì sao pháp giải thoát lại nguy hiểm như vậy, để các con biết cách tránh đi những lỗi ấy trong thực hành.
Xuất phát điểm của các con là vô lượng kiếp các con đã làm chúng sanh. Gọi là chúng sanh bởi vì các con sống chỉ biết đến bản ngã và nhu cầu của bản ngã. Nghĩa là các con chỉ biết nhận thân xác, tâm hồn hoặc tánh biết là các con và hưởng những dục vọng từ nó.
Các con không thấy được sự thật về các con chính là thể tánh Như Lai Tạng sắc tức thị không vô ngã, thị hiện thành vòng tuần hoàn bất tận giữa thể xác, tâm hồn và vũ trụ. Cho nên các con chỉ biết sống trong phạm vi chi phối của bản ngã và nhu cầu của bản ngã.
Pháp giải thoát thì dạy thêm các con về cách sống vô ngã Như Lai Tạng. Và toàn bộ phương pháp thiền giải thoát là để giúp các con vượt qua tưởng phân biệt nhị nguyên (là một trong những đặc tính của tưởng), tiến tới thể nhập tưởng với Phật tánh, để các con bao trùm tất cả tưởng và trở thành chủ nhân của tưởng.
Để thể nhập và bao trùm tưởng thì phải tin và thiền Tánh Không cho tới khi các con giác ngộ ra tâm bình đẳng và đồng đẳng. Nghĩa là tưởng phân biệt không còn chi phối được các con nữa.
Ví dụ:
Một sự việc xảy đến, nếu anh quyết định làm cũng chết mà không làm cũng chết, anh sẽ làm như thế nào?
Thì "làm" hay "không làm" là tướng nhị nguyên của tưởng:
- Nếu tôi thấy tướng làm là không cấu tạo, và thấy tướng không làm cũng là không cấu tạo -> là tôi đang học thấy ra tính chất bình đẳng của Tánh Không. Vì làm hay không làm thì chúng cũng chung cùng một bản Tánh Không.
- Nếu tôi thấy tướng làm là cả thể tánh vận hành, và tướng không làm cũng là cả thể tánh vận hành -> là tôi đang thấy ra tính chất đồng đẳng. Vì làm hay không làm thì chúng cũng đang cùng thị hiện cả vũ trụ thể tánh vận hành như nhau không sai biệt.
Thì tôi không phải đắn đo làm hay không làm nữa. Tôi sẽ tùy duyên lựa chọn một cách vô ngại, không còn bị nỗi sợ chết hay nỗi sợ nhân quả nghiệp báo chi phối:
- Trên Tánh Không, tôi làm gì có cấu tạo mà chết.
- Trên phạm vi thể tánh "sắc tức thị không" bao trùm thì tôi lại càng không thấy có cái chết.
Đấy là tôi đã phải thiền Tánh Không, thiền Như Lai Tạng để thấy ra tính chất bình đẳng và đồng đẳng rồi. Nghĩa là tôi đã phải trải qua công phu hành thiền mà thấy, chứ không phải chỉ nghe thầy tôi giảng. Thế thì tôi mới có thể lựa chọn vô ngại được như thế.
Mà thước đo của tâm bình đẳng và đồng đẳng lại chính là đức hạnh của nhẫn nhục và nhẫn nhục Ba La Mật.
Thế nào là nhẫn nhục Ba La Mật? Là trong tất cả mọi hoàn cảnh trái ý xảy đến, ông không bị tham, sân, si, thù hận và sợ hãi chi phối. Vì ông đã nhận thức rõ và tin rằng:
- Tất cả là ông.
- Tất cả là trò chơi do chính tâm ông tạo.
- Ông đã tin ông là Tánh Không.
- Ông đã tin ông là thể tánh.
- Ông đã tin ông là bất tử.
- Ông đã thiền ngũ uẩn giai không để thấy bình đẳng tất cả quan điểm tư tưởng. Dù cho có vô tận những quan điểm trái chiều, thì ông cũng đã thấy nó sẵn trong nhau, không có cấu tạo và là cả một thể tánh đồng đẳng.
Mọi âm thanh sắc tướng dù khác nhau như thế nào, nhưng khi chúng đập vào tai ông, đập vào mắt ông, thì ông thấy cả một thể tánh không cấu tạo sẵn vận hành.
Căn bệnh "Ngáo Phật"
Nhưng chúng sanh không bình đẳng và đồng đẳng được. Chúng sanh chỉ biết dùng bản ngã một cách thuần túy là bản ngã. Chúng sanh sống bản ngã mà bản ngã.
Cho nên khi nghe Phật dạy: "Con ơi tất cả đã sẵn giải thoát ngay đây, tất cả là Phật".
Thế là chúng sanh vội vàng chộp lấy câu "Tất cả là Phật" và tự phong cho mình là Phật luôn! Rồi nghĩ là mình làm cái gì cũng được, vì tất cả đã sẵn giải thoát.
Chúng sanh quên mất rằng:
- Cả một giai đoạn thiền để bình đẳng và đồng đẳng đâu rồi?
- Lục độ Ba La Mật đâu rồi?
- Nhẫn nhục Ba La Mật đâu rồi?
Ông không thấy bình đẳng, đồng đẳng thì ông vượt qua tưởng phân biệt nhị nguyên kiểu gì? Không vượt qua tưởng phân biệt nhị nguyên thì không biết gì về vô ngã Như Lai Tạng, hiển nhiên là bị bản ngã và dục vọng của bản ngã chi phối.
Bị bản ngã và dục vọng của bản ngã chi phối rồi mà lại sinh ý muốn tiêu diệt dục vọng để giải thoát thì càng đưa mình vào sự mắc kẹt trong bản ngã vô minh.
Cho nên, chúng sanh rất dễ bị rơi vào việc lấy lời pháp "Tất cả đã sẵn giải thoát" của Phật để làm lá chắn cho dục vọng bản ngã mà chẳng biết gì, chẳng ngộ được gì về vô ngã hay Như Lai Tạng, không thể nhập được tất cả pháp (là Phật) mà tự phong cho mình là Phật. Trường hợp này gọi là bệnh ngáo Phật.
Những trường hợp bị ngáo Phật nó sẽ nghĩ: "Ngáo Phật thì cũng đã sẵn giải thoát ngay đây", thế là ngáo thành x2, x3, x4. Ngáo rồi thì chúng nó cũng có thể không sợ chết, cũng có thể nổi máu anh hùng. Nhưng khi chết thật thì đọa thật, do không có định lực của bình đẳng và đồng đẳng.
Vì thế các con hãy nhớ, pháp giải thoát dạy sống:
- Bản ngã mà vô ngã
- Vô ngã mà bản ngã
- Lấy tâm bình đẳng và đồng đẳng làm gốc
- Lấy tâm bao trùm làm gốc
- Lấy vượt thoát tưởng nhị nguyên làm gốc
- Lấy Tánh Không làm gốc
Có gốc vô ngã rồi thì mới diệu dụng bản ngã mà vô ngã được. Bấy giờ, làm gì cũng được phước vô lượng, nhân quả chẳng làm gì được. Còn sống thuần bản ngã mà gốc đạo đồng đẳng (Chánh đẳng Chánh giác) không có, thì làm cái gì cũng tạo nghiệp, phải chịu cảnh đọa đày vô lượng kiếp.
Thế nên, xuất phát điểm của các con là bản ngã thì các con mới cần trải qua pháp phương tiện như:
- Tụng kinh niệm Phật
- Lễ lạy sám hối
- Bố thí cúng dường
- Giữ giới thiền định
Để chuyển hóa nghiệp. Nhờ nghiệp được chuyển hóa thì trí tuệ mới dần khai mở để hiểu những lời pháp khó. Rồi từ đấy mới có điểm tựa an toàn để bước vào pháp giải thoát.
Đây chính là lý do vì sao Đức Phật Thích Ca chỉ giảng phần lớn là pháp phương tiện. Ngài giảng chính vào:
- Giới - Định - Tuệ
- Tứ Diệu Đế
- Bát Chánh Đạo
- Và Đại Thừa
Vì lòng đại bi dành cho chúng sanh, để chúng sanh tu đạo giải thoát mà không bị những lỗ hổng về đức hạnh làm cho rơi đọa.
Không tham sân si là giới luật để làm giảm sự chi phối của bản ngã, nghĩa là làm giảm sự chi phối của những cơn nghiện vào thể xác và tâm hồn. Từ đấy, học mở rộng tâm, thâm nhập Tánh Không và Như Lai Tạng được thuận lợi hơn, và thước đo là nhẫn nhục Ba La Mật.
- Mọi hoàn cảnh bất như ý là sắc tướng.
- Nhẫn nhục Ba La Mật là thị không.
Nên đối diện hàng ngàn cảnh bất như ý mà tâm không bị tham, sân, si, thù hận, sợ hãi chi phối thì đấy là đã có được đức hạnh của Sắc Tức Thị Không.
Nghĩa là: Sắc tức thị không không phải chỉ là những quan điểm được giải nghĩa trên lý thuyết tư tưởng của pháp học, mà phải được trải nghiệm, tôi luyện thành đức hạnh. Đức hạnh ấy là Pháp thân Phật. Không có đức hạnh của Sắc tức thị không thì đừng mong thể nhập thành Phật.
Tuy nhiên, nếu các con cho rằng không tham sân si là pháp thiền giải thoát thì nguy to. Vì không tham sân si chỉ là giới luật để làm thuần tính chất nghiện của bản ngã xuống, nó là bước đệm cho thiền giải thoát. Bởi không tham sân si hay tham sân si cũng vẫn chỉ là một cặp đối đãi của tưởng phân biệt. Khi ông cực đoan một phía và lạc vào nó, ông sẽ không thấy được bình đẳng nữa.
Tóm lại
Bài pháp vĩ đại này Ta tặng cho các con làm cẩm nang tu đạo, hãy nghiền ngẫm thật kỹ.
Phật thấy tất cả pháp đều là pháp giải thoát kể cả vô minh. Nhưng chúng sanh muốn thấy tất cả pháp đều là pháp giải thoát thì chúng sanh lại phải phá vô minh.
Vì thế Ta mới tạm phân biệt rằng: Chỉ có những lời thuyết trên của Ta mới là pháp giải thoát, mà pháp giải thoát này còn là vua của vua của vua của tất cả pháp vĩ đại khác.
Techcombank 6198 29 1080 VU KIM CUONG