Thứ Hai, 29 Tháng 9, 2025 lúc 10:31 · 15 phút đọc
Thế nào là Thiện chân thật? - Pháp thiền Maha Mudra
Pháp thiền Maha Mudra
Tất cả những điều thiện, việc thiện mà các con làm, dưới cái nhìn chân thật của Đạo thì nó chưa bao giờ được gọi là thiện, mà nó chỉ gọi là mua bán.
Vì sao vậy? Vì tất cả những điều ấy đều có mục đích toan tính của tâm sở hữu.
Các con làm thiện vì mong cầu phước đức?
Bởi các con nhận thức rõ, nếu các con không biết tích phước, tích đức thì khi quả phước mà các con đang hưởng cạn rồi, chắc chắn các con sẽ bị đọa vào những cõi thấp.
Các con phân rõ ranh giới của ác và thiện. Khi đứng về thiện thì các con muốn tiêu hủy, loại bỏ cái ác.
Vậy các con đã bao giờ nhìn vào nỗi sợ và tâm sở hữu của các con chưa? Chúng đang điều khiển các con như những con rối, như những kẻ nô lệ của chính mình:
- Làm thiện vì sợ nghiệp trổ
- Làm thiện vì sợ bị đọa
- Làm thiện vì cầu tái sanh cõi lành (trời, người)
Các con có thấy được ngay trong cái thiện mà các con nhân danh, đã sẵn có luôn những cái ác đang vận hành không? Và ngay trong những cái ác đã sẵn có luôn những cái thiện đang vận hành không?
Thiện - ác là một cặp đối đãi nhị nguyên mà các con không bao giờ có thể đánh giá được đâu là thiện, đâu là ác. Nếu có đánh giá, thì nó là đánh giá của tư tưởng cá nhân các con, hoặc tư tưởng của một xã hội, của một hành tinh.
Ta lấy ví dụ: Các con phóng sanh cá ra sông ra hồ, với các con, việc làm ấy là thiện, nhưng những loài cá được phóng sanh đó lại ăn những loài khác nhỏ hơn để sống.
Vậy có phải việc phóng sanh mà các con cho là thiện này lại đang tiếp tay cho những cái ác sinh sôi?
Thiện mà các con nhân danh hay định nghĩa chỉ là dựa trên những quan điểm tốt cho quyền lợi sở hữu của các con. Nếu các con biết phóng sanh tác động xấu đến quyền lợi sở hữu của các con thì chắc các con sẽ chẳng bao giờ làm?
Nhưng tại sao Ta lại nói thiện ác không thể định nghĩa?
Vì mọi định nghĩa mà không thoát ra khỏi tư tưởng của nhị nguyên thì đều không chân thật.
Ví dụ:
- Các con cho rằng giúp đỡ người khác là tốt, là thiện. Nhưng ở góc độ khác, việc giúp đỡ lại khiến người ta trở nên hèn yếu (không tốt, là ác).
- Rồi "làm ơn mắc oán" cũng thiếu gì? Làm ơn là thiện, mắc oán là ác. Giúp người ta xong mà còn bị người đó hại chết cả nhà là chuyện bình thường của lịch sử.
Các con làm thiện vì những cảm xúc bi lụy ích kỷ của chính các con
Vì sao một ông bố hay bà mẹ thương người con ghê gớm thế nhỉ? Thậm chí có thể hy sinh thân mạng cho người con? Thoạt nghe thì rất cao thượng phỏng?
Nhưng dưới cái nhìn chân thật của Đạo, những hành động ấy chỉ là trò mua bán của chúng sanh.
Ta phân tích cho các con một vài lý do mà một đứa trẻ được sinh ra nhé:
- Tai nạn tình dục của ông bố và bà mẹ.
- Vì sợ cô đơn mà sinh con.
- Vì trói buộc sở hữu nhau mà sinh con.
- Vì sức ép nối dõi của dòng họ.
- Vì thỏa mãn cảm giác được sinh sản và cảm giác được sở hữu gia đình.
- Vì muốn tuổi già có người chăm sóc.
- Để khi chết có người cúng đồ ăn.
- Để có người thừa kế của cải.
- Để cuộc sống trở nên có mục đích và ý nghĩa sống. (...)
Vì đây là con tôi nên tôi phải bảo vệ nó, lo cho nó, bởi khi làm như thế, tôi được thỏa mãn cảm xúc nơi tôi. Nếu không làm như thế, tôi thấy vô cùng đau khổ.
Cho nên, tình yêu, tình thương nơi chúng sanh là không có, mà chúng sanh chỉ có tình cảm bi lụy khi bị tâm sở hữu điều khiển.
Đứa trẻ là con của các ông các bà hay sao? Khi các ông các bà chết, các ông các bà chịu cảnh tái sanh làm con, làm chó của chính người con mà các ông các bà đang sanh tâm sở hữu đây là chuyện rất bình thường của luân hồi.
Chừng nào các con còn bị tư tưởng nhị nguyên chi phối, thì chừng ấy các con không thể biết được đâu là thiện chân thật.
Vậy thế nào là Thiện chân thật?
Thiện chân thật là khi các con chiến thắng được chính các con.
Thế nào là chiến thắng được chính các con?
- Là chiến thắng được tâm sở hữu.
- Là thoát khỏi chi phối của nhị nguyên.
Làm thế nào để thắng tâm sở hữu? Làm thế nào để thoát khỏi nhị nguyên?
Là khi các con nhận định được tâm sở hữu hay tư tưởng nhị nguyên chỉ thuộc về sắc tướng, còn các con là tánh không dính mắc bao trùm tất cả.
Làm sao để thấy được tánh không dính mắc?
Các con phải luyện tập không chạy theo tư tưởng.
Luyện không chạy theo tư tưởng như thế nào?
Các con phải có Giới - Định - Tuệ.
Giới
Giới là chánh niệm.
Thế nào là chánh niệm?
-
Là không để cho những ý niệm nhị nguyên dẫn dắt khiến các con chìm đắm vào những thói quen toan tính mong cầu kết quả, mục đích.
- Ví dụ: Các con ăn cơm thấy ngon hay dở là những đánh giá của nhị nguyên. Thông thường ngon thì các con vui và khen, không ngon thì các con chê hoặc sân si. Đó đều là những cảm xúc sinh ra do việc các con chạy theo tư tưởng đánh giá nhị nguyên.
- Hoặc chỉ đơn giản là các con xem một bộ phim mà các con sanh tâm ủng hộ nhân vật chính, và khó chịu, cay ghét nhân vật phản diện... là các con đã bị tư tưởng nhị nguyên cuốn đi rồi.
- Thì bây giờ mọi cảm giác ngon dở xuất hiện, mọi sự đánh giá khởi lên, các con đều biết rằng nó chỉ thuộc về tư tưởng. Mà nếu các con còn chạy theo tư tưởng, còn đắm vào nó thì các con sẽ lạc vào tri kiến cá nhân của riêng các con, giống như một con ếch tự nhốt mình vào đáy giếng, không còn có thể rộng mở bao trùm được nữa.
- Đây cũng chính là nguyên nhân vì sao các con mãi là chúng sanh và không bao giờ chân thật được, vì các con luôn nhốt mình vào tri kiến cá nhân của chính các con, hoặc của người khác, khiến cho bản tính bao trùm sẵn có trong các con không thể hiển lộ.
-
Các con cũng không được ngăn chặn hay dập tắt những tư tưởng, cảm xúc đánh giá nhị nguyên đang khởi lên.
- Vì nếu các con ngăn chặn là các con đang sanh tâm loại bỏ nhị nguyên.
- Mà nếu sanh tâm loại bỏ bất cứ thứ gì đó thì không thể ứng với tánh chất bao trùm của Phật tánh, bởi đã bao trùm thì không loại bỏ điều gì cả (Trung đạo).
- Nên khi các con sanh tâm loại bỏ cũng chính là các con đang trói buộc, sở hữu vào một mục đích mà các con phải đạt được. Nếu các con không đạt được thì các con sẽ đau khổ, thế là các con lại cuốn vào vòng quay của nghiệp và vô minh do tâm sở hữu của các con tạo ra rồi.
-
Cho nên các con vẫn sống với nhị nguyên mà không loại bỏ nhị nguyên, nhưng không dính mắc vào nhị nguyên, không bị nhị nguyên chi phối.
- Những tư tưởng, cảm xúc đánh giá nhị nguyên nổi lên, các con chỉ cần để im mà không chạy theo, nó sẽ tự sinh diệt.
- Ví dụ: Các con gặp một cô gái hay một chàng trai đẹp khiến các con xao xuyến. Các con nhận định mọi đánh giá đẹp xấu, mọi cảm xúc rung rinh đều là tư tưởng khởi lên. Bình thường các con chạy theo nó và buông lời tán tỉnh vân vân... thì bây giờ các con không chạy theo những cảm xúc và suy nghĩ đấy, nghĩa là các con không còn bất cứ một lời nói hay hành động tán tỉnh nào nữa, nhưng suy nghĩ thì vẫn thấy khởi lên những đánh giá hoặc kế hoạch. Các con không chạy theo tư tưởng, cảm xúc đánh giá nhị nguyên thì nó sẽ tự sinh diệt.
- Làm được như vậy, các con có định lực giải thoát.
-
Các con sống không mục đích.
- Mọi điều các con làm trong cuộc đời này đều có mục đích hết, và mọi mục đích đều phục vụ cho tâm sở hữu.
- Các con ăn để làm gì? Để khỏe, để sống, để no, để hưởng thụ...
- Các con tu hành để làm gì? Để giảm nghiệp, để tích phước, để cảm thấy an toàn, để nương dựa tâm linh, để giác ngộ Thánh quả, để giác ngộ Phật quả...
- Mà mọi mục đích ấy, hay tâm sở hữu của các con, hay tất cả ý niệm tư tưởng của các con, chỉ thuộc về phần sắc dục mà thôi. Chân lý là Sắc tức thị Không kia. Muốn thấy chân lý là Sắc tức thị Không thì các con phải luyện được tâm không dính mắc, cũng chính là tánh không dính mắc bao trùm.
- Để luyện được tâm không dính mắc thì các con phải có được thái độ sống không mục đích bao trùm tất cả mục đích của tư tưởng.
- Ví dụ: Các con ăn để làm gì? Thì một loạt các mục đích trong tư tưởng sẽ nêu ra như trên. Nhưng các con lại luyện ra một thái độ quả quyết rằng: "Chúng con ăn chẳng để làm gì cả". Và các con hãy áp dụng thái độ đó cho mọi mục đích.
- Ví dụ: Ông đi làm để làm gì? Trước câu hỏi trên thì tư tưởng của các con hiện ra đủ loại mục đích: kiếm tiền, cọ xát học hỏi, làm việc mình yêu thích, kiếm người yêu...
- Khi ấy: Các con không loại bỏ tư tưởng, mà các con vẫn phải sống với tư tưởng, tức là các con vẫn phải sống với mục đích. Nhưng vì các con không chạy theo tư tưởng, tức là các con không chạy theo mục đích nên các con không có mục đích.
- Cái không có mục đích này là thái độ không chạy theo mục đích của tư tưởng, chứ không phải phủ định tất cả mục đích của tư tưởng.
- Thái độ là năng lực quyết định sức mạnh mục đích của tư tưởng. Kiểm soát được thái độ là kiểm soát được mục đích của tư tưởng. Và thái độ này phải đủ mạnh để bao trùm mọi mục đích của tư tưởng. Thái độ này bào mòn sức mạnh chi phối của mục đích, tức là bào mòn sức mạnh của tâm sở hữu, bào mòn sức mạnh của vô minh, bào mòn sức mạnh của thói quen (tập quán nghiệp).
- Ta gọi thái độ này là định lực của Trung đạo.
- Cho nên trước câu hỏi: "Ông đi làm để làm gì?", các con chỉ cần trả lời: "Chẳng để làm gì cả" (không mục đích), mặc dù tư tưởng đang đầy rẫy những mục đích.
- Hỏi: "Vì sao vậy?", các con chỉ cần đáp: "Không biết được".
- Nếu các con trả lời một loạt lý do vì sao ra, thì các con lại bị tư tưởng cuốn đi vào phần sắc (ta là một đối tượng thế này, ta phải thực hành thế kia, để được như thế đấy...). Thế là tánh không dính mắc lại không thể hiển lộ bao trùm được, vì chính các con lại nhốt các con vào ý niệm danh tướng "ta là". Trả lời "không biết được", nghe thì ngây ngô và có vẻ ngu, nhưng nó lại giúp các con tăng trưởng định lực đấy, vì tư tưởng không dắt các con đi được nữa.
- Thế giới có biết bao nhiêu người khôn mà vẫn là kẻ nô lệ cho tư tưởng đấy, họ làm gì có được định lực của việc không chạy theo tư tưởng?
- Định lực của không chạy theo tư tưởng và định lực của ngăn chặn, chặt đứt tư tưởng là khác nhau đấy nhé:
- Không chạy theo tư tưởng là định lực của Trung đạo bao trùm.
- Còn ngăn chặn tư tưởng, chặt đứt ý niệm là thu thúc ý căn để tiến nhập những cảnh giới vô vi, là định lực của vô vi.
- Kẻ đã biết sống không mục đích thì không còn tham sân si thù hận, vì kẻ ấy đã bao trùm và chấp nhận được mọi kết quả của tư tưởng.
- Kẻ sống bị mục đích chi phối thì còn nguyên tham sân si thù hận, và những tham sân si thù hận ấy sẽ lộ ra khi những mục đích của chúng không được thỏa mãn, khi nỗi sợ trong chúng không còn có thể che đậy.
- Mọi điều các con làm trong cuộc đời này đều có mục đích hết, và mọi mục đích đều phục vụ cho tâm sở hữu.
-
Các con không được lấy bất cứ một hình tượng nào của một ai đó để làm khuôn mẫu noi theo, kể cả hình tượng của Chư Phật, của Đức Phật Thích Ca.
- Vì Phật là sự biến đổi thiên biến vạn hóa.
- Ví dụ: Các con thấy Đức Phật Thích Ca ngồi bắt ấn, nhắm mắt, kiết già dưới cây bồ đề và Ngài giác ngộ thì các con cho rằng phải làm được như thế thì mới là Phật? Hoặc phải ăn ngày một bữa mới là Phật? Một tuần đi vệ sinh một lần mới là Phật? Một năm không tắm mới là Phật? Hoặc phải khoác áo tu sĩ mới là Phật? Phải đi khất thực mới là Phật? Dái tai phải lủng lẳng như cặp bánh chưng bánh giầy mới là Phật?(...)
- Hoặc đơn giản là các con thấy một vị Tăng có mặt mày trang nghiêm liền sinh lòng hâm mộ: "Ôi vị Thầy này nhìn toát ra định lực dã man nhờ, mình phải bắt chước theo vị ấy..." Có biết đâu lúc vị Tăng đó ngồi rặn thì định lực đo bằng rắm các con nhé.
- Tất cả là sự biến đổi, các con không được trụ.
-
Các con phải chánh niệm được rằng:
- Tất cả hình tướng, nhân duyên, đức hạnh... tích tụ cấu thành Ta, nhưng Ta không phải là nó.
- Chánh niệm này giúp các con không còn trụ vào xác thân sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
- Chánh niệm này giúp các con không còn khái niệm các con là ai, không còn định nghĩa các con là ai, bởi mọi định nghĩa, khái niệm sẽ chỉ đưa các con lún sâu hơn vào ý niệm sắc tướng tư tưởng mà thôi (Ngũ ấm ma).
-
Việc thực hành 6 món Giới chánh niệm này phải nhuần nhuyễn đến mức nó trở thành vô thức.
- Vô thức này không phải vô thức của chúng sanh.
- Vì sao? Vì vô thức của chúng sanh là phản xạ vô thức hình thành từ tâm sở hữu, tức từ nghiệp lực và vô minh. Còn vô thức của 6 món chánh niệm mà Ta khai thị là vô thức của quang minh, của trí tuệ Phật, của chiến thắng tâm sở hữu, của bao trùm nhị nguyên.
Định
Sau khi các con hành tốt phần Giới Ta nêu trên thì định lực của Trung đạo bao trùm sẽ tự hình thành, hay còn gọi là:
- Định lực của tánh không dính mắc
- Định này không phải là định của trụ cảnh giới
- Định này là định của không trụ bất cứ nơi nào
Tuệ
Chính là Đại Toàn Thiện (Maha Mudra), chính là Thiện chân thật.
- Thiện chân thật là thiện bao trùm.
- Thiện bao trùm là thiện bình đẳng.
- Thiện bình đẳng là thiện không phân biệt nhị nguyên.
Nhìn vào một pháp mà Ta thấy tất cả pháp đang vận hành. Tất cả pháp vận hành lại thị hiện trong một pháp.
- Nhìn vào thiện nhị nguyên của chúng sanh, mà Ta thấy tất cả pháp vận hành.
- Nhìn vào ác nhị nguyên của chúng sanh, Ta cũng thấy tất cả pháp vận hành.
- Và không pháp nào hơn được pháp nào, pháp nào cũng đang thị hiện tất cả pháp vận hành.
Nên thiện nhị nguyên không hơn ác nhị nguyên. Chúng luôn bình đẳng.
Ta gọi đó là Thiện pháp bình đẳng. Thiện pháp bình đẳng là Thiện chân thật.
Khi ấy, mọi hành động Ta làm đều là đang bố thí phước vô lượng, bố thí vô úy. Bố thí vô úy là Thiện chân thật.
Tóm lại, điều Ta đã khai thị cho các con là món quà vô giá mà Chư Phật đã chân truyền cho Ta, phần tâm yếu quan trọng nhất của Trung đạo, để các con bước vào pháp thiền giải thoát:
Vô Thượng Chánh Đẳng Giác
Bất Khả Tư Nghị
Pháp Đại Toàn Thiện
Đại Thủ Ấn Maha Mudra
Tất cả bài pháp trên chỉ là bước chân đầu tiên của Thiền. Bài pháp xứng đáng cho muôn loài cúng dàng.
Techcombank 6198 29 1080 VU KIM CUONG