Thứ Ba, 2 Tháng 6, 2026 lúc 10:07 · 7 phút đọc
Pháp Giải Thoát - Phần 7: Dục Là Trung Đạo
Trong những phần trước, Ta đã chứng minh cho các con:
- Tưởng ở trong tất cả, bao trùm tất cả.
- Dục ở trong tất cả, bao trùm tất cả.
- Phật ở trong tất cả, bao trùm tất cả.
Tưởng và dục chính là Phật tánh hóa hiện, là môi trường, là thân và là sự sống của Phật tánh. Vậy thì thiền giải thoát là một quá trình thể nhập tưởng, dục và Phật tánh chứ không thoát đi đâu cả. Khi các con ở trong và bao trùm được tất cả phạm vi, tính chất của tưởng và dục thì các con giải thoát.
Cho nên, trong Phật giáo Kim Cương Thừa mới có hình ảnh phối ngẫu đầy tính dục của các vị Phật.
Tuy nhiên, chúng sanh các con đọc đến đây thì rất dễ ngộ độc bản ngã.
Vì sao?
Vì dục và tưởng mà Ta nói đến là dục và tưởng của bản ngã mà vô ngã, dục và tưởng của sẵn giải thoát ngay đây, chứ không phải dục và tưởng của chỉ bản ngã như chúng sanh các con nghĩ. Các con chỉ biết đến bản ngã và chưa một ai vô ngã, chưa một ai bao trùm và giải thoát.
Nên ngộ độc nghĩa là lấy lời pháp làm lý do để nhân danh buông thả tình dục, hưởng thụ dục lạc mà không hiểu thế nào là trí tuệ của sẵn giải thoát ngay đây. Dẫn tới khi quả trổ đến, các con chết chìm trong biển nghiệp lực của việc trói buộc tâm vào tưởng, dục trong phạm vi tưởng, dục của bản ngã — nơi "tôi" chỉ là một nhân vật nào đấy đang hưởng dục và tưởng. Kết cục bị đọa thảm.
Bản ngã là gì?
- Bản ngã là khi các con nhận các con là thân xác, thì thân xác ấy gọi là bản ngã, hay còn gọi là cái tôi hữu vi.
- Bản ngã là khi các con nhận các con là linh hồn, tâm hồn, tánh biết, cảnh giới... thì tất cả chúng đều được gọi là bản ngã, hay còn gọi là cái tôi vô vi.
Kẻ nhận Ta là thân xác là bản ngã (hữu vi). Mà kẻ nhận Ta là tánh biết cũng là bản ngã (vô vi).
Phật không phủ nhận bản ngã hữu vi hay vô vi, mà Phật chỉ ra thêm mối liên quan giữa hai bản ngã này và tất cả vũ trụ để thể nhập đồng đẳng bao trùm, gọi là Vô ngã, gọi là Như Lai Tạng, gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác.
Dục là Trung đạo
Vì dục bao trùm cả hữu vi và vô vi. Dục bao trùm mọi đối cực. Dục vận hành sự sống của cả hữu vi và vô vi. Dục vận hành sự sống của mọi đối cực trong tưởng.
Dục ở đây Ta nhắc rõ lại là:
- Niềm tin
- Hy vọng
- Mong muốn
- Mong cầu
- Khao khát
- Tình cảm
- (...)
Chứ không phải chỉ nói về tình dục.
Đức Phật Thích Ca chưa bao giờ dạy quan điểm diệt dục để giác ngộ. Ngài đồng ý cho đệ tử là cư sĩ tại gia chánh dâm mà vẫn có thể giác ngộ giải thoát.
Việc thiểu dục tri túc hay luyện không tham sân si chỉ là pháp phương tiện tạm thời để làm yếu đi tâm trói buộc quá nặng vào bản ngã, rồi tiến tới thâm nhập vô ngã. Luyện không tham sân si chỉ là bước đệm trước khi vào pháp giải thoát.
Đã là bước đệm nghĩa là chỉ dùng tạm, khi cần thì dùng, không còn phù hợp thì thôi không dùng, nên gọi là phương tiện. Giống như cái cuốc dùng để xới đất, xới đất xong rồi thì thôi không dùng nữa.
Nhưng chúng sanh, những người tu bây giờ lại xem bước đệm (không tham sân si) là pháp giải thoát nên vẫn còn trong đạo Trời - Người, nghĩa là vẫn còn trong ngũ ấm ma. Chứ Đức Phật Thích Ca không phủ nhận bản ngã và dục của bản ngã. Không có dục bản ngã thì lấy đâu ra Phật thị hiện trong chúng sanh, lấy đâu ra những câu chuyện về Thái tử Tất-đạt-đa, lấy đâu ra chuyện về cuộc đời Đức Phật Thích Ca để cho các con học.
Bây giờ các con hãy nghe Ta hỏi:
- Tham sân si hay không tham sân si có phải là hai mặt vận hành của tưởng nhị nguyên không?
- Dục hay không dục có phải là hai mặt vận hành của tưởng nhị nguyên không?
Vậy nếu Ta chọn một cực là không tham sân si, không dục là Ta đang lạc vào nhị nguyên của tưởng đấy chứ? Lạc vào tưởng nhị nguyên thì giải thoát kiểu gì?
Vậy luyện không tham sân si, không dục để làm gì?
Bởi vì theo lý mà nói thì tham sân si hay không tham sân si, dục hay không dục thì đã sẵn giải thoát ngay đây. Nhưng chúng sanh vì trói buộc vô minh quá nặng nên không thể thấy được giải thoát là thể nhập sẵn ngay đây:
- Khi sướng thì đồng ý ngay là giải thoát sẵn.
- Khi khổ thì chạy mất dép.
- Khi khổ thì chỉ biết kêu: "Cứu tôi với!"
Nên chúng sanh phải học phá vô minh, làm lỏng trói buộc vào vô minh. Còn Phật thì lại thấy vô minh cũng chính là Phật giải thoát thì chẳng cần phá gì cả — đấy là Phật thấy thôi nhé.
Cuối cùng, chúng sanh ngày nay lại cho rằng luyện pháp phương tiện là giải thoát, luyện không tham sân si, không dục là giải thoát. Thế là chúng sanh lạc vào lòng tốt, lạc vào thiện pháp của đạo Trời và Người mà cho là đạo giải thoát.
Mặt khác, đạo giải thoát quá khó để chúng sanh hiểu và chấp nhận, nên tùy thuận căn cơ, chúng sanh học không tham sân si và ly dục cũng tốt trong hành trình tiến hóa. Tu pháp Trời - Người chống đọa ba cõi thấp cũng tốt. Sướng thì vẫn thỏa mãn tâm nguyện chúng sanh hơn là khổ.
Đấy, cho nên Đức Phật Thích Ca giác ngộ giải thoát xong Ngài có muốn thuyết pháp đâu, vì Ngài thấy quá khó. Vua trời Phạm Thiên phải thị hiện quỳ lễ cầu thỉnh ba lần thì Đức Phật Thích Ca mới đồng ý. Thời nay, các con nhận nhầm pháp Trời - Người làm pháp giải thoát nên Ta mới nói thời Mạt pháp.
Quan điểm: "Không thiện không ác là giải thoát"
Rồi còn có vị đưa ra quan điểm: "Không thiện không ác là giải thoát". Nghe tưởng đúng mà không đúng.
Pháp giải thoát của Phật dạy thoát khỏi nhị nguyên (thiện - ác, chánh - tà, đúng - sai...) chứ không phủ nhận nhị nguyên, trái lại còn diệu dụng cả nhị nguyên.
Cho nên, khi nói "không thiện không ác" nghĩ là Trung đạo, nhưng lại lộ ra tâm phủ định nhị nguyên, thì đấy vẫn không phải Trung đạo của Phật. Hơn nữa, "không thiện không ác" lại chính là một mặt nhị nguyên đối đãi của "có thiện có ác". Nên khi nói không thiện không ác thì vẫn bị tưởng nhị nguyên chi phối.
Đấy, các con đã hiểu vì sao trước khi dắt các con vào pháp hành, Ta phải trang bị đầy đủ lý thuyết cho các con chưa? Nếu không có phần trí tuệ này thì vô minh xé nát các con ngay. Các con sẽ bị ngộ độc tưởng.
Phần lý thuyết vẫn còn dài lắm.
Techcombank 6198 29 1080 VU KIM CUONG